Cách tìm ra lý tưởng sống (生きがい)trong thời đại ngày nay 

REIVEW SÁCH: モチベーション革命( Tạm dịch: CUỘC CÁCH MẠNG ĐỘNG LỰC)

Trí tuệ nhân tạo đang thay đổi thế giới — nhưng có một góc nhìn ít người để ý: Có thể chính sự thất bại lặp lại đã tạo nên thành công hôm nay

 

 

Người ta ngày càng lo ngại rằng, với sự hỗ trợ mạnh mẽ từ trí tuệ nhân tạo, con người rồi sẽ dần mất việc, và phải đối mặt với nhiều thách thức mới trong cuộc sống.

Gần đây mình vừa đọc xong một cuốn sách có tên là 『モチベーション革命』(Cuộc cách mạng động lực). Dù đây là một đầu sách miễn phí trên Kindle, nhưng lại nhận được sự quan tâm đặc biệt từ độc giả với 369 lượt đánh giá và điểm trung bình 3.9 sao — đủ để thấy nội dung của nó không hề tầm thường.

Cuốn sách bàn về thế hệ trẻ trong thời đại hiện nay, được tác giả gọi là 「乾けない世代」– “thế hệ không khát khao”. Một thế hệ lớn lên trong môi trường đủ đầy, không thiếu thốn vật chất, vậy thì họ sẽ lấy đâu ra động lực? Làm sao để sống có ý nghĩa khi mọi thứ dường như đã sẵn có?

Sau khi đọc xong, mình muốn chia sẻ lại cùng bạn hai nội dung đó là:

1/  5 kiểu khiến bạn hạnh phúc 

2/  Cách tìm ra lý tưởng sống (生きがい)trong thời đại ngày nay 

 

Chúng mình sẽ cùng đọc một số trích dẫn mà mình lấy ra từ cuốn sách này nhé. 

改めて、「乾けない世代」のモチベーションをより理解するために、「幸せの5つの軸」を見ていきましょう。

Để hiểu rõ hơn về Động lực của ” Giới trẻ ngày nay”, chúng ta hãy cùng bàn tới ” 5 loại hình hạnh phúc” 

長年、心理学の世界では、「人の幸せはひとつの軸しかない」と言われてきました。しかしここ数年で、「いや、どうもひとつの軸にはまとめられない」ということが分かり、あらゆる学者が多様な幸せのあり方を定義しています。

Suốt nhiều năm, trong thế giới tâm lý học, người ta vẫn cho rằng” Hạnh phúc của con người chỉ có một loại duy nhất” .

Tuy nhiên, vài năm trở lại đây rất nhièu học giả đã chỉ ra rằng : “Không thể gói gọn hạnh phúc chỉ trong một khuôn mẫu duy nhất” và định nghĩa ra nhiều hình thái đa dạng khác nhau.

「はじめに」で紹介した、アメリカ人心理学者で「ポジティブ心理学」の第一人者でもあるマーティン・セリグマンが唱えた「人の幸せは5種類に分けられる」というお話をご紹介します。

Như đã giới thiệu ở “Lời mở đầu”, tôi xin phép được chia sẻ về  câu chuyện “Hạnh phúc của con người có thể được chia thành 5 loại” do Martin Seligman, một nhà tâm lý học người Mỹ , đồng thời cũng là người tiên phong trong lĩnh vực tâm lý học tích cực đề xướng

 

「達成」と「快楽」
“THÀNH TỰU”  VÀ “LẠC THÚ” 

 

1番めは、上の世代の幸せの源とされた「達成」。与えられた目標をクリアしたり、誰にもできなかったことを成し遂げたりするときに感じる幸せです。2番めは「快楽」。これは単純に言うとドーパミンを感じること、ハンバーガーを食べたら幸せな気持ちになれるとか、好きな人と抱き合うこととかで得られるといった幸福感のことです。

Loại hạnh phúc đầu tiên là “Thành tựu” được cho là khởi nguồn của hạnh phúc ở thời đại trước. Đó là cảm giác hân hoan khi bạn hoàn thành được một mục tiêu đã được giao, hoặc khi làm được điều mà không ai khác có thể làm được.

Loại thứ hai là “Lạc thú”. Đó là cảm giác hạnh phúc đạt được  bằng những cảm nhận hooc môn hạnh phúc Dopamine đơn thuần, như là tâm trạng hạnh phúc khi được ăn Hambager, hay hẹn hò với người mình yêu .

Loại thứ hai“Lạc thú” – loại hạnh phúc đến từ những khoái cảm tức thì do dopamine mang lại. Chẳng hạn như cảm giác sung sướng khi cắn miếng hamburger yêu thích, hay khoảnh khắc ấm áp khi ôm người mình yêu thương.

特に昔の人達にとっては、この物理的なポジティブ感情が「達成」にひもやすかったので目標達成をしてワインと美女、となったわけです。

Đặc biệt là với người xưa, cảm xúc tích cực mang tính chất vật lý này thường hay gắn liền với “thành tựu”. Vì thế, mỗi khi đạt được mục tiêu nào đó, họ lại tự thưởng cho mình bằng rượu ngon và mỹ nhân 

しかし、バブル崩壊リーマンショックを多感な時期に経験した若い方は、この「達成」に基づいた、物理的なポジティブ感情に対して、そのもろを感じて、むしろネガティブな感情が紐付きやすくなっています。

Tuy nhiên, đối với những người trẻ đã từng trải qua những biến động lớn như sự sụp đổ của bong bóng kinh tế hay cuộc khủng hoảng tài chính Lehman, lại cảm nhận rõ sự mong manh của những cảm xúc tích cực mang tính chất vật chất như vậy. Thậm chí, những cảm xúc ấy lại dễ gắn liền với nỗi bất an, cảm xúc tiêu cực hơn là sự thỏa mãn.

 

「良好な人間関係」
MỐI QUAN HỆ TỐT ĐẸP 

 

3番めは、「良好な人間関係」。「別に何も達成しなくてもいい。ただ、自分の好きな人と笑顔で生きていければいい」という幸せを指します。地元が大好きで、週末のたびにみんなでわいわい飲み会をするのが好きな人、日頃からの付き合いを大切にして、同窓会に必ず参加する人も、この思想が強いでしょう。

Thứ ba“Mối quan hệ tốt đẹp”. Đây là kiểu hạnh phúc bắt nguồn từ suy nghĩ: “Chẳng cần phải đạt được điều gì lớn lao cả. Chỉ cần mỗi ngày được sống vui vẻ bên những người mình yêu thương là đủ rồi.” Những người gắn bó sâu sắc với quê hương, yêu thích những buổi tụ họp rôm rả vào mỗi cuối tuần, hay những người luôn trân trọng các mối quan hệ thường nhật và không bao giờ bỏ lỡ một buổi họp lớp nào đều là những người mang đậm tư tưởng này.

セリグマンはこの「良好な人間関係」は人の幸せの基礎として捉えています。昔の世代の方々には、会社のためにすべてを注ぎ込むことが、一家の大黒柱として家庭を支えるという家族における「良好な人間関係」と、24時間戦えますか? というCMに象徴されていたように会社における「良好な人間関係」をも両立させていてくれたのです。

Seligman (Nhà tâm lý học) lấy “Mối quan hệ tốt đẹp” này là tiêu chuẩn hạnh phúc của con người. Với những người ở thời đại trước, tồn tại cả (両立させる) “Mối quan hệ tốt đẹp” trong gia đình là việc dốc ( 注ぎ込む) toàn bộ sức lực cho công ty hỗ trợ gia đình như là trụ cột chính , và  “Mối quan hệ tốt đẹp” ngoài xã hội kiểu tượng trưng cho CM (quảng cáo)  “Bạn có thể chiến đấu với 24 giờ”

Nhà tâm lý học Seligman cho rằng “mối quan hệ tốt đẹp với người khác” là một trong những nền tảng cốt lõi tạo nên hạnh phúc của con người. Đối với những thế hệ trước, họ đã có thể dung hòa cả “mối quan hệ tốt đẹp” trong gia đình, bằng cách cống hiến toàn bộ sức lực cho công việc, họ trở thành trụ cột vững chắc để nâng đỡ gia đình và cả mối quan hệ trong xã hội, bằng cách hòa mình vào môi trường công sở, nơi những khẩu hiệu như “Bạn có thể chiến đấu suốt 24 giờ chứ?” từng là biểu tượng  trong các chương trình quảng cáo 

そういった生き方に限界がきている時代のなかで、社会のパーツとしてではない「良好な人間関係」が大事になっているといえます。

Trong thời đaị mà cách sống như vậy có những điểm còn hạn chế, thì có thể nói “Mối quan hệ tốt đẹp” chứ  không phải phải như là một phần trong xã hội đang trở nên quan trọng.

Trong thời đại mà lối sống kiểu cũ đó đang dần bộc lộ những giới hạn, có thể nói rằng điều quan trọng không còn là những “mối quan hệ tốt đẹp” như một phần trong cỗ máy xã hội, mà là những mối quan hệ mang tính con người

 

「意味合い」
CÓ Ý NGHĨA  

4番めが「意味合い」。英語では「ミーニング」という言い方をします。「意味合い」の具体例を見てみましょう。

Niềm hạnh phúc thứ tư là ” Có ý nghĩa”. Trong tiếng anh gọi là “Meaning”. Chúng ta cùng thử xem ví dụ cụ thể của ” Có ý nghĩa” là gì!

城の石垣を作っている2人の職人がいます。片方はつまらないと思いながら仕事をしていて、もう1人はいつも楽しそうに作業をしている。つまらない人は「毎日石を削っているばかりで、なんの変化も刺激もない。もう肉体労働で辛いし、何をやっているんだろう」とをこぼします。

Có hai người thợ cùng xây dựng tường đá cho một tòa lâu đài. Một người thì luôn tỏ ra chán nản khi làm việc, còn người kia lúc nào cũng vui vẻ, say mê với công việc của mình. Người cảm thấy nhàm chán thường hay than phiền: “Ngày nào cũng chỉ mài giũa đá suốt, chẳng có gì thay đổi hay mới mẻ cả. Chỉ toàn là lao động tay chân mệt mỏi… Thật sự không hiểu mình đang làm việc này để làm gì nữa.”

一方、楽しく作業をしている人は「この石垣ができたら、僕の息子も孫も、何代にもわたって平和に暮らせるようになる。こんなにやりがいのある仕事ができて、僕は幸せだ」と額に汗を光らせます。

Ngược lại, người thợ luôn vui vẻ làm việc thì vừa lau giọt mồ hôi lấp lánh trên trán, vừa mỉm cười nói: “Nếu xây xong bức tường đá này, con cháu của tôi sẽ được sống trong yên bình qua nhiều thế hệ. Được làm một công việc ý nghĩa như thế này, với tôi, đó là niềm hạnh phúc.”

後者の感じる幸せが、「意味合い」です。自分のやっている仕事が、大きな文脈のなかで誰かに貢献できている。さらに言えば、自分の大切な人のためになっていること。これを実感できることが、「意味合い」タイプの人にとって、モチベーションの源になるのです。

Hạnh phúc của người thứ hai cảm nhận được chính là “Có ý nghĩa”.

Đó là khi công việc mình đang làm đang đóng góp cho một ai đó trong một bối cảnh xã hội rộng lớn. Và nếu điều đó còn vì những người thân yêu của mình, thì lại càng có ý nghĩa hơn nữa. Với những người sống theo kiểu “ý nghĩa”, việc cảm nhận được điều này chính là nguồn động lực lớn nhất để họ tiếp tục cố gắng.

 

「没頭」ぼっとう

ĐẮM CHÌM 

5番めは、「没頭」です。これは、職人気質の人が多い日本人が多く持つ幸せの感情です。

Loại Hạnh phúc thứ năm chính là “ĐẮM CHÌM” . Đây là cảm giác hạnh phúc  đặc trưng của người Nhật, những người có tố chất của những người thợ thủ công lành nghê (職人気質) 

プラモデルを組み立てるような細かな作業に集中しているときや、アクセサリー作りに夢中になっているときに幸せを感じる人は多いでしょう。「没頭」タイプの典型例がイチローです。

Nhiều người cảm thấy hạnh phúc khi họ được hoàn toàn tập trung vào một việc gì đó tỉ mỉ, như lắp ráp mô hình nhựa hay làm đồ trang sức. Một ví dụ điển hình cho tuýp người “đắm chìm” này chính là Ichiro – huyền thoại bóng chày Nhật Bản

彼は、メジャーリーガーとして活躍するようになった今なお、毎日、欠かさず素振りをしています。このようなすさまじい練習を続けられる彼は、きっと素振りのたびにこんなことをイメージしているのでしょう。「今日のピッチャーはクレイトン・カーショウ。今、ツースリーに追い込まれていて、三塁にはアイツがいる。そこで俺は、こう出る!……うん、今のは手首の返しが遅かったな」。このように、自分が行うすべての作業に基準を設けて、そのなかで成長し続けるのが「没頭」なのです。

Hiện tại, dù đã trở thành một cầu thủ chuyên nghiệp thi đấu tại giải bóng chày lớn nhất thế giới – Major League, ông vẫn không một ngày lơi là việc luyện tập đánh bóng. Sự kiên trì luyện tập với cường độ phi thường (凄まじい_すさまじい) ấy chắc hẳn đến từ việc anh luôn hình dung trong đầu mỗi lần vung gậy như thể đang ở trong một trận đấu thực thụ: “Người ném bóng hôm nay là Clayton Kershaw. Mình đang bị dẫn đến tỉ số 2-3. Ở vị trí thứ ba có đồng đội đang chờ. Và rồi, mình sẽ làm thế này!… Ừm, vừa rồi cổ tay mình xoay hơi chậm một chút.”

Bằng cách đặt ra những tiêu chuẩn riêng cho từng động tác, từng nhịp chuyển động, và không ngừng cải thiện trong từng chi tiết nhỏ như thế — đó chính là trạng thái “đắm chìm”. Là khi toàn bộ cơ thể, tâm trí và cảm xúc hoà làm một trong từng khoảnh khắc, rồi từ đó không ngừng tiến bộ

そのしん姿勢を支えているのは、成長し続けるためのプロ意識。「戦う相手は自分である」という心持ちです。

Thứ nâng đỡ cho sự nghiêm túc không ngừng nghỉ ấy, chính là tinh thần chuyên nghiệp vì sự tiến bộ không ngừng. Một niềm tin vững chắc: “Đối thủ lớn nhất của mình, chính là bản thân mình.”

「幸せの軸」にはこの5つがあります。自分が何を幸せと感じるか、分析してみると、自分自身のモチベーションを引き出すうえで有効になるでしょう。

Trong “5 loại hạnh phúc ấy”, bạn cảm thấy hạnh phúc với cái gì, hãy thử phân tích và lôi kéo ra động lực của bản thân
Trong “5 trục hạnh phúc” ấy, mỗi người sẽ cảm nhận hạnh phúc theo cách riêng của mình. Hãy thử ngồi lại, phân tích xem điều gì khiến bạn thực sự hạnh phúc — vì đó chính là chìa khóa để khơi dậy động lực từ bên trong chính bản thân bạn.

 

So với thế hệ trước, thế hệ ngày ngày thường tìm kiếm hạnh phúc ở ba loại hình phía sau đó là: Mối quan hệ tốt đẹp, Có ý nghĩa, và Đắm chìm. Thế hệ như chúng mình hiện nay sẽ có thể tạo ra những “giá trị mới”

Mà để tìm ra được những giá trị ấy thì cần phải biết mình thích gì để 没頭 vào chúng, tìm ra những thứ khác biệt từ chúng.
Các bạn đã từng biết đến thuyết con Nhím, mà trong tiếng nhật gọi là 生きがいchưa?

 

 

Theo thuyết con nhím, chọn lựa ngành nghề lý tưởng sẽ là điểm giao thoa của ba yếu tố: điều bạn thực sự đam mê, điều bạn thật sự giỏi và nhu cầu xã hội. Hay nói cách khác chọn đúng ngành chính là việc chọn đúng sở thíchphù hợp với năng lực và đáp ứng nhu cầu của xã hội.

さて、いよいよまとめに入っていきましょう。ここまで、主に3つのことをお話ししてきました。

Chúng ta hãy đi vào tổng kết nội dung. Từ đầu đến giờ, tôi đã nói về 3 vấn đề chính: 

1、「ないものがない」時代から生きる「乾けない世代」は、上の世代に比べ、「達成」や「快楽」よりも「意味合い」「良好な人間関係」「没頭」に意味を置く世代であること。この世代だからこそ作れる「新しい価値」があるということ。

“Thế hệ ngày nay” sống trong thời đại là ” Không có gì là không có”, nên so với thế hệ trước đặt ý nghĩa trong  「達成」(Thành tựu) 「快楽」( Lạc thú), thì  thế hệ ngày nay lại  đặt ý nghĩa trong  「意味合い」( có ý nghĩa)「良好な人間関係」( mối quan hệ tốt) 「没頭」( Chìm đắm)  hơn 

2、その「新しい価値」は、自分だけの「好き」や「歪み」から生まれやすいということ。

Giá trị mới dễ được sinh ra từ “Yêu thích” hay “Méo mó”  chỉ có trong bản thân mình.

3、「自分だけの世界の見方」を発信すると、それが他の人にとって「新しい世界の見方」になったり、既存のモノに新しい意味を与えたりすること。

Khi truyền đi những thông tin về ” Cách nhìn thế giới mà chỉ bản thân mới có”, thì điều ấy sẽ trở thành :”Cách nhìn thế giới mới” đối với người khác , hay mang lại ý nghĩa mới cho những thứ đã tồn tại.

 

最後は、「好き」をいかに人生の柱である「生きがい」まで変えていくのか、

Cuối cùng, làm thế nào để thay đổi trục cuộc đời từ “Yêu thích” thành” Lý tưởng sống”

Ikigai(生きがい)とは、「That which you love(あなたが大好きなこと)」「That which the world needs(世界が必要としていること)」「That which you can be paid for(あなたが稼げること)」「That which you are good at(あなたが得意なこと)」の4つの点が交わるところに生み出されるものです。

Ikigai là thứ được sinh ra giữa 4 điểm giao thoa của 「Thứ bạn rất yêu thích ( あなたが大好きなこと)」「Thứ xã hội cần(世界が必要としていること)」「Thứ trả tiền cho bạn(あなたが稼げること)」「Thứ bạn giỏi (あなたが得意なこと)」

「好きなことだけで生きていく」ことは、「That which you love(あなたが大好きなこと)」のことですよね。でもそれだけじゃなくて、実は「That which you are good at(あなたが得意なこと)」のことでもある。人は、自分が好きなことはいつまでも続けていられるものなので、やり続けているうちにそれが「好きなこと」=「得意なこと」に進化していくのです。

” Chỉ sống với điều mình yêu thích ” chính là「Thứ bạn rất yêu thích ( あなたが大好きなこと)」. Tuy nhiên, không phải chỉ có vậy không thôi, mà thực tế còn có cả “Thứ bạn giỏi nữa”. Con người  có thể tiếp tục làm những việc mà bản thân mình thích mãi mãi (  いつまでも)、 nên trong lúc tiếp tục làm sẽ chuyển hóa (進化) thành 「好きなこと」( Điều mình yêu thích ) =「得意なこと」( Thứ bạn giỏi) 

(省略)

そして、自分が好きで得意なことが、同時に世界によって求められるものであれば、生きがいになります。世界といっても、全世界のことではなくて、あなたのコミュニティのサイズでいいのです

Và thứ mà bản thân mình yêu thích, mình giỏi, đồng thời cũng được xã hội yêu cầu, thì sẽ trở thành ikigai (lý tưởng sống). Dù không phải là toàn thế giới hay thế giới, mà chỉ cần ở mức độ cộng đồng của bạn là được.

 

(省略)

僕は、これが本当の意味での「好きなことだけで生きていく」状態だと思うのです。あなたにとっての「好き」が見つかると、自然とそれが「ライフワーク」になり、人生のなかの「ライフワーク」のバランスがしだいに増えていきます。好きなことをしているときは、いくら時間が過ぎても気が付かないくらい幸せなもの。だからといって、好きなことばかりしている時間が極端に増えたり、「生きがい」の4つの点のバランスがうまくとれずに、養うべき家族や子どもが犠牲になったりするのは本末転倒です。

Tôi nghĩ rằng đây mới chính là ý nghĩa thực sự của việc “sống với những điều mình yêu thích”. Khi bạn tìm ra được “điều mình yêu thích”, điều đó sẽ tự nhiên trở thành “công việc cuộc đời” (ライフワーク), và dần dần, phần “công việc cuộc đời” trong cuộc sống bạn sẽ ngày một nhiều lên.

Khi làm điều mình yêu thích, bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc đến mức chẳng nhận ra thời gian đã trôi qua bao lâu.

Tuy nhiên, nếu bạn chỉ mải mê theo đuổi sở thích của bản thân mà không giữ được sự cân bằng giữa bốn yếu tố của “ikigai”, để rồi phải hy sinh thời gian chăm sóc cho gia đình hay con cái, thì điều đó lại trở thành một sự đảo lộn giữa cái chính và cái phụ – đi ngược lại với bản chất của cuộc sống.

あなたにとって先の図の4つの点が交わるモノは何か、見極めていきましょう。

Hãy làm rõ điểm giao thoa của bạn trong 4 điểm ở biều đồ phía trên nhé.

___________________________________

Nếu bạn muốn đọc sách này cùng mình thì tham gia thư viện sách, thông tin ở đây.

https://www.facebook.com/share/p/18kbo6wBxD

 

 

 

 

 

Một bình luận

Gửi bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Chat Zalo
Tin nhắn