THỬ THÁCH 30 NGÀY SHADOWING ( LẦN 2 )

Chào mừng bạn đã quay trở lại với thử thách Shadowing hàng ngày lần 2 cùng HỒNG LÊ THỊ

Trong lần trước mình đã nhận được một số comment của các bạn là : Chị ơi, không có phần giải thích hả chị?
Rồi sau một thời gian shadowing mình nhận ra một số nhược điểm của mình trong cách phát âm, cũng như アクセントcủa bản thân. Thê nên lần này sẽ có một vài thay đổi như sau.

1/ Về cơ bản, video shadowing vẫn chỉ tập trung vào việc shadowing mà thôi, nên sẽ không có phần giải thích cụ thể về từ vựng cũng như cách sử dụng ở trong bài.
Lý do của việc này đó là, do thử thách diễn ra liên tục trong 30 ngày, nên nếu làm chi tiết cụ thể thì chắc mình sợ không thực hiện được.

Vậy nên mình cũng có nghĩ ra một cách đó là tổng hợp lại các bài shadowing kèm từ vựng hay ngữ pháp. Kèm với đó là chia sẻ một số suy nghĩ và lý do mà mình đã chọn bài shadowing đó.

Nếu như bạn nào sau khi shadowing, muốn hiểu thêm về mặt từ vựng, ngữ pháp trong bài thì có thể xem ở link dưới phần mô tả đến phần giải thích cụ thể trên blog của mình nhé.

2/ Lần này, các bạn sẽ chỉ nghe thấy giọng của mình trong video.

Nếu như lần trước, mình ngắt đoạn từng câu để bắt chước và shadowing lại thì lần này mình sẽ nghe tai nghe và đồng thời thực hiện shadowing song song với đoạn video gốc.

Làm như vậy chúng mình sẽ luyện được tốc độ đọc, và bắt chước nhịp điều một cách tự nhiên hơn.

Đó là hai điểm thay đổi trong lần shadowing lần này.

Bây giờ chúng ta sẽ đến với bài đầu tiên nha.

 

大事なのはどんな仕事をするかでなく、
どう仕事をするかだった

一田 憲子

Tạm dịch

Điều quan trong không phải là làm công việc gì?

Mà là làm chúng như thế nào 

 

 

Nói thật với các bạn, là lúc mình shadowing bài này, thực sự mình không có hiểu lắm ý tác giả muốn viết.
Đơn giản thấy cái giọng nó nhẹ nhàng, vàm chậm rãi nên mình muốn thử đọc xem sao.
Nhưng thực sự thì nghe thì tưởng là chậm rãi, nhưng cũng không thực sự là như vây 🙂

Rồi sau đó mình đã thử ngồi lại và đọc hết lại toạn bộ bài viết với phần dịch dưới đây.

 

 

Link của bài đọc này ở trang dưới đây:

【エッセイラジオ】第20夜:一田憲子さんのエッセイ「大事なのはどんな仕事をするかでなく、どう仕事をするかだった」(読み手:スタッフ青木)

 

 

 

私が自転車を置く駐輪場には、
数名のおじさんたちがいます。

Ở bãi đỗ xe nơi mà tôi đậu xe.
Có một vài chú đã nhiều tuổi

 

毎朝、全速力で自転車を漕いで到着し、
その中の一人を見つけると嬉しくなります。
私が一番好きなおじさん!

Hàng sáng, Tôi đều đạp xe (自転車を漕いで) hết tốc độ tới bãi đỗ xe.
Và cảm thấy rất vui khi nhìn thấy một người ở đó
Đó là chú mà tôi yêu quý nhất

 

「お、今日は早いねえ~」
「寒いね~。気をつけて」
と声をかけてくれて、その声を聞くたびに
都内に年上の身内がいない私は、
なんだか見守ってもらっているような、
温かい気分になります。

Chú lên tiếng chào tôi:
” Ồ, hôm nay cháu đi sớm nhỉ ”
“Trời lạnh nhỉ, Cháu đi cẩn thận nhé ”

Mỗi lần nghe giọng nói ấy,
tôi một người không hề có người thân (身内) nào lớn tuổi ở Tokyo
cảm thấy thật ấm áp
như thể được cái gì đó che chở

 

そしていつも、
人は笑顔と挨拶の言葉だけで、
誰かを幸せにできるんだなあと
背中で感じながら仕事に出かけます。

Và mọi người lúc nào cũng có thể vừa đi làm ( 仕事に出かけます)
vừa cảm thấy như đã làm ai đó hạnh phúc chỉ bằng
câu nói chào hỏi và nụ cười.

 

フリーライターになってから、
いい仕事がしたい、
好きな雑誌に記事を書けるようになりたい、
もっと言えば、ちょっとは
名前が知られるライターになりたい、
素敵な人たちと一緒に仕事ができるように
なりたい、と思ってきました。

Kể từ khi trở thành người viết tự do,
Tôi đã luôn nghĩ
Muốn làm việc thật tốt,
Muốn viết những bài báo được đăng lên những cuốn tạp chí yêu thích.
Hay chính là tôi muốn trở thành người viết có tên tuổi  (名前が知られる)
Muốn được cùng làm việc với những người tuyệt vời. 

 

若い時期、ハングリーであることや、
野望を持つこと
自分の成長のために決して悪いことでない、
と今でも思います。

Có ước vọng 野望を持つこと hay sự khao khát  vào thời còn trẻ
tuyệt đối không phải là xấu vì để bản thân trưởng thành.
Đến bây giờ tôi cũng nghĩ như vậy

でも……。

あの駐輪場のおじさんをはじめ、
生き生きと働いている人に出会うと
「仕事」ってなんだろう?と
考えずにはいられなくなります。
世の中には、「いい仕事」と
「そうでもない仕事」があって、
「いい仕事」をする方が
幸せになれるのだろうか?って……。

 

Thế nhưng

Tôi đã không thể không ngừng nghĩ tới việc

“Công việc” là gì khi bắt gặp những người đang làm việc một cách sôi nổi
Điển hình là các chú ở bãi đỗ xe đó.

Trên thế giới, có những công việc tốt, và cả những công việc chưa tốt.
Người làm công việc tốt thì có thể trở nên hạnh phúc?

 

いつも取材でお世話になっている
兵庫県西宮市のセレクトショップ
「パーマネントエイジ」の
林多佳子さんは、こうおっしゃいました。

 

林多佳子さん là một người trung niên tại cửa hàng
cửa hàng ở thành phố Nishinomiya, tỉnh Hyogo
nơi mà tôi thường xuyên lấy bài có nói

 

「私ね、お店で洋服を売っている
今が一番楽しいのよ。でもね、
それはたまたま夫が洋服屋だったから。
もし彼が八百屋だったら、私は喜んで
大根とかニンジンを売っていたと思うの」

Tôi, vui vẻ nhất khi bán quần áo ở cửa hàng.
Thế nhưng, thỉnh thoảng chồng tôi cũng làm ở cửa hàng quần áo
Thê nên nối ông ấy là làm cửa hàng rau, thì tôi nghĩ mình sẽ rất vui mừng,
bởi ông ấy đã bán carot, củ cải

 

そんな言葉を聞いて、
もしかしたら、「どんな仕事をするか」は
あまり大きな意味を持たないんじゃないか?
と思うようになりました。

Khi nghe những câu nói này,  tôi đã nghĩ
Vậy, phải chăng ” Làm công việc gì?” không mang ý nghĩa gì lớn lắm?

大事なのは「どう仕事をするか」
なのかも……。

Có lẽ điều quan trọng đó là ” Làm công việc như thế nào”

 

私は「書く」ことが好きです。
だから、もし八百屋さんになったら、
この野菜はどうやって
料理をしたら美味しくなるかを綴って
チラシを配ったら楽しいかもしれません。

Tôi thích “viết”
Vì thế cho nên, nếu làm ở cửa hàng rau,
Tôi sẽ viết ra các bài viết xem nên nấu thức ăn như thế cho ngon
rồi phát tờ rơi thì chắc là vui lắm

 

洋服屋さんになったら、ウェブページで、
コーディネートのコツをちょこちょこ
書かせてもらえるよう頼むかもしれません。
今からお母さんになれるとしたら
子供たちと交換日記をするのが夢です。

Nếu trở thành chủ cửa hàng, có thể tôi sẽ được nhờ
viết các mẹo để kết hợp quần áo trên trang chủ.
Còn nếu giả dụ bây giờ tôi trở thành người mẹ,
thì giấc mơ của tôi sẽ là trao đổi nhật ký cùng con.

私たちはつい、
成し遂げたことの形や大きさで
自分の評価を自分で決めて、
満足したり、落ち込んだりするけれど、
もっと違う道筋から、
「やりがい」や「充実感」を
求めてもいいんじゃないかと
思うようになりました。

 

Rốt cuộc thì chúng ta sẽ tự mình quyết định đánh giá của bản thân 

bằng hình thức hay độ lớn của những thứ ta đã đạt được 

Thế nhưng tôi nghĩ rằng phải chăng chúng ta nên theo đuổi ” cảm giác thoả mãn ” hay ” Niềm hứng thú” 

từ một góc nhìn khác có lẽ sẽ tốt hơn. 

 

あの駐輪場のおじさんのように、
笑顔と挨拶だけで
人を幸せにできると信じられたら、
仕事の仕方も毎日の心の持ちようも
変わってきそうです。

 

Giống như người chú ở bãi đỗ xe ấy.
Nếu bạn tin rằng mình có thể tạo hạnh phúc cho người khác
Thì cách làm việc, cũng như trái tim hàng ngày của bạn cũng sẽ thay đổi.

 

Bản thân bạn có đang thấy công việc hay hành động của mình khiến cho ai đó hạnh phúc? 
Chỉ đơn giản là một nụ cười, một lời chào hỏi đầy sức sống! 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Comments

Kam
2021-05-13 at 11:15 PM

毎朝、全速力で自転車を漕いで到着し、その中の一人を見つけると嬉しくなります。私が一番好きなおじさん!
Đoạn này bạn nhầm 1 chút nhé. Không phải các chú đạp xe, mà là “Hàng sáng, khi tôi đạp xe đến nơi (bãi để xe) và nhìn thấy 1 chú trong số họ thì liền cảm thấy rất vui. Đó là chú tôi yêu quý nhất.”



Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *