TIN VÀ QUÝ TRỌNG NHỮNG ĐIỀU MÌNH THÍCH

Không rõ là từ bao giờ, nhưng có vẻ từ ngày xưa hồi còn đi học mình đã từng bị coi là người hơi lập dị “異端児”.

Mình đã không biết đến từ lập dị “異端児”.này, đến khi tình cờ đọc được bài viết này ngày hôm nay.

Lại đúng vào cái hôm cũng có khá nhiều suy nghĩ mông lung trong đầu ^^

Chị ấy cũng đã từng là một người lập dị tại công sở 

むかしむかし、職場で私は”異端児”だった。

工藤 瑞穂

Chúng mình cùng thử đọc chị ấy đã từng là một người như thế nào nhé: 

私が関心があり好きでいるものは、職場のたいていの人にとっては理解できないことだったようで、よく私の陰口が聴こえてきた。

「あの子なんなんだろうね」
「さあ、よくわからない」

もう忘れてしまったけど、なんだかあだ名もつけられていた笑。(宇宙人、みたいな感じだったように思う)

Có vẻ như những thứ tôi quan tâm, thích thú (私が関心があり好きでいるもの) thì đối với hầu hết (たいてい) những người tại nơi làm việc lại không thể hiểu được, và tôi thường hay nghe thấy những lời nói xấu sau lưng  ( 陰口_かげぐち) mình

”Cái cô gái ấy là như thế nào ý nhỉ?”

“Uhm, cũng chẳng rõ !”

Tôi cũng không nhớ nữa, nhưng tôi còn bị đặt nickname (あだ名を付ける)gì đó (なんだか)  (Tôi nghĩ có cảm giác như thể là Người ngoài hành tinh vậy ) 

どうやら、その頃私が熱意を傾けていたチャリティーダンスイベントや震災の復興支援活動のブログを見つけたらしい。

Hình như, vào thời gian đó, tôi đã tìm ra được blog viết về hoạt động hỗ trợ phục hồi thảm họa động đất hay sự kiện tình nguyện mà tôi đã rất tâm huyết (熱意を傾けていた) 

職場ではそんなに仕事ができるわけでないのに、何してるんだろうこの子。ダンスとか、社会貢献とか、よくわからないな。

みんなきっとそう思っていたと思う。

Cái cô bé đó, Ở nơi làm việc, thì không phải là một người làm được việc đến thế mà lại đang làm gì không biết. Nhảy à, cống hiến xã hội à, cũng chẳng rõ.

Tôi nghĩ chắc chắn tất cả đều nghĩ như vậy 

 

一緒にご飯を食べていても、女子社員たちの話題には関心がなかったので、話に全くついていけない。ドラマの話、今日の晩御飯のメニューの話、週末でかけるレジャースポットの話。

Mặc dù cùng ăn trưa với nhau, nhưng vì tôi không mất quan tâm (関心がなかった) tới chủ đề của những nhân viên nữ, nên hoàn toàn không bắt nhịp với câu chuyện. Chuyện về phim ảnh, chuyện menu bữa tối nay, chuyện địa điểm giải trí (レジャースポット) cuối tuần (週末でかける)

 

お昼の休憩時間はいつも憂鬱で、話を聞くふりすらできず、頭のなかでいつも別のことを考えていた。

そのうち居づらくなって、いつのまにかその輪に入らず、一人でオフィスに残って、パソコンで自分の好きなことを調べながらご飯を食べるようになった。

Không thể lúc nào cũng sầu muộn( 憂鬱_ゆううつ, rồi tỏ ra lắng nghe vào thời gian nghỉ trưa, nên trong đầu tôi lúc nào cũng suy nghĩ việc khác 

Khó có thể sống trong đó, nên không biết từ bao giờ (いつのまにか) tôi đã ra khỏi vòng tròn ấy, ở lại một mình trong văn phòng, vừa ăn cơm vừa tìm hiểu những thứ mình thích trên máy tính 

 

こういうことを繰り返していると、女子社員のなかでちょっとした“仲間はずれ”のような状況になってくる。

Khi lặp đi lặp lại những việc như vậy, tôi trở thành người hơi “tách biệt” trong số những nhân viên nữ. 

 

職場で一切心を開いていなかった私は、自分に関わってほしくないという一心で、その気遣いを受け取らなかった。

プライベートではダンスや復興支援を一緒にしてくれる仲間はいたけれど、生きている時間の多くを使う仕事で心を許せる相手がいないのは、私にとってはとてもつらいことだった。

毎朝、通勤のバスを降りて、職場まで歩く5分の道のりは足取りが重かった。

Tôi hoàn toàn (一切) không mở lòng ở công sở với suy nghĩ (一心) không muốn ai quan tâm đến mình, nên đã không nhận được sự quan tâm lo lắng ấy (その気遣い) 

Mặc dù trong việc riêng tôi có những người bạn cùng nhảy hay cùng làm tình nguyện hỗ trợ sau thảm họa động đất, tuy nhiên trong công việc_ thứ tốn nhiều thời gian trong cuộc sống tôi lại không có ai hết lòng rộng lượng (心を許せる), việc này đối với tôi vô cùng khó khăn 

Hàng sáng, sau khi bước xuống khỏi xe bus, con đường (道のり) 5 phút đi bộ đến chỗ làm thật nặng nhọc  (足取りが重かった)

なんとかして気持ちを明るくしよう。

そう考えて、その5分はいつもイヤホンをして大音量で自分の好きな音楽をかけていた。そんな私を励まし勇気づけてくれた、1曲の歌がある。

「ものごころついた時から かまぼこ板にしか 興味がない」

ものすごいインパクトのある(笑)、この謎の一節から始まる曲だ。

Mình phải làm gì đó để vui vẻ hơn 

Tôi nghĩ vậy,  rồi trong 5 phút ấy tôi đã bật bản nhạc yêu thích thật to qua tai nghe. Có một bản nhạc đã khuyến khích, tạo dũng khí cho tôi khi đó. 

「ものごころついた時から かまぼこ板にしか 興味がない」

Chỉ khi mọi thứ đã thành hình, thì mới có hứng thú với bảng kamaboko

Một bản nhạc bắt đầu bằng một đoạn khá lạ như thế, và rất là (ものすごい) thấm. 

秋田出身のシンガーソングライター

・青谷明日香さんの代表曲「異端児の城」。初めて聞いたときに「これは私のための曲だ」と思った。

それはこんなストーリー。

Ca sỹ kiêm nhạc sỹ xuất thân từ Akita.

「異端児の城」/ Bức thành lập dị là một tác phẩm tiêu biểu của Asuka Aoya. Tôi đã nghĩ ” Đây chính là bản nhạc của mình” khi nghe nó lần đầu tiên. 

 

小さい頃から「かまぼこ板」が大好きで仕方なかった少年は、一生懸命小遣いを稼いでは、かまぼこ板ばかり集めていた。当然、学校ではクラスメイトが話している話題にはついていけない。

「クラスの女子たちが 廊下でこそこそしてるの聞いた
あのかまぼこやろうって ぼくの陰口言っていった
とうるる 興味がない おまえらなんかにゃ興味がない」

そのまま大人になった彼は、自分を理解してくれる大好きなお嫁さんに出会った。そして、大好きなかまぼこ板で家まで建てた。それは、なかなか人には理解されない趣味を持った彼の「異端児の城」だった。

「人と違うこと 自分を貫くこと
とても難しい だいたいは流されてしまう
でも大丈夫 本当の仲間ができるから
ゆっくりでいい 築いていこう 自分の城」

私は行きたくない職場へ向かって歩きながら、よくこの曲を聞いて目を潤ませていた。

いつかこの場所から抜け出して、自分の好きなことを仕事にしたい。
いつか信頼できる仲間といられる居場所をつくりたい。

今は理解されなくても、きっとそのうち誰かがわかってくれる。

Tôi vừa đi bộ đến nơi mà tôi không hề muốn đi, vừa lắng nghe bản nhạc vừa ngân ngấn nước mắt.

Đến một lúc nào đó tôi muốn ra khỏi chỗ này, làm việc mà bản thân mình yêu thích.

Đến một lúc nào đó tôi muốn tạo nên một chỗ có những người bạn thân có thể tin tưởng được 

Bây giờ dù không thể hiểu được, nhưng chắc chắn trong số họ rồi sẽ có ai đó hiểu cho tôi 

そうやって自分を無理やり鼓舞しなければ、自分の好きなものを諦めずにいることは難しかった。この曲をお守りのようにしていた。

時が経って、やっと独立して自分のやりたいことをやるため、仕事を辞めるとき。あるスタッフの人が最後に、こんなふうに声をかけてくれた。

Nếu như không bắt buộc truyền cảm hứng cho mình như thế, thì khó mà không từ từ bỏ những thứ mình yêu thích. Tôi đã giữ gìn bản nhạc này.

Thời gian trôi qua, cuối cùng tôi cũng đã tự lập và làm những thứ mình muốn làm. Khi bỏ việc, vào ngày cuối cùng có một nhân viên đã nói với tôi như thế này 

「ずっとブログ見てたけど、復興支援のためにイベントやって、本当すごいよな。応援してるから頑張ってね」

Tôi đã xem blog của bạn suốt, Để hỗ trợ khôi phục sau động đất, bạn đã làm những event, thật là tuyệt vời. Tôi sẽ cổ vũ bạn, nên hãy cố lên nhé 

自分が遠ざけていた人のなかには、本当は言わないだけで、自分を認めてくれていた人もいたんだと、私はその時に初めて知った。

Trong số những người đã  tránh xa mình, cũng có những người chấp nhận mình, chỉ là họ không nói ra điều thực sự mà thôi. Khi đó lần đầu tiên tôi biết. 

……………………………….

あの頃の私は、自分だけが人と違って、自分だけが苦しいと思っていた。

でも今はわかる。

誰にでもひとと違う部分があり、ひとには言えないことがある。

Tôi nghĩ , tôi khi đó, chỉ có mình là khác với mọi người, chỉ có mình là đau khổ 

Nhưng giờ tôi đã hiểu.

Ai cũng có điểm khác biết với mọi người, cũng có những điều không thể nói với mọi người  

 

大切にしたいのにできなかったもの。
好きなのに好きだって言えなかったもの。

Những thứ muốn quý trọng, giữ gìn không không thể 

Những thứ mặc dù thích mà không thể nói là mình thích 

 

わからないだけで、そのひとなりに我慢してきた思いがある。

気が合わないと遠ざけていた、あの女子社員のみんなにもきっと。

思えば私自身だって、彼女たちの好きなものたちを、「つまらないこと」として理解しようとはしなかった。

Chỉ vì không hiểu mà mọi người mới có những suy nghĩ chịu đựng.

Tất cả những nhân viên nữ ấy đã tránh xa tôi vì không hợp chắc chắn cũng như thế.

Ngay bản thân mình, cũng không có chuyện, lý giải những thứ mà những cô gái ấy thích là ” Thứ nhàm chán ” cả.

 

まずは自分の好きなものを素直に認めてあげること、大事にしてあげること。そうすればきっといつか、誰かが気づいてくれるし、仲間ができる。

そして誰しもがそういう思いを抱えていることを理解できれば、そのひとが好きなものに関心を持たなかったとしても、好きであることだけは否定せずにすむ

Trước mắt, hãy thừa nhận một cách thẳng thắn những thứ mình thích, quý trọng nó. Làm như vậy, chắc chắn một lúc nào đó ai đó cũng sẽ nhận ra, và có thể kết bạn 

Ngoài ra, nếu bạn hiểu được rằng, ai cũng mang những suy nghĩ như vậy, thì cho dù mọi người không quan tâm đến những thứ bạn thích đi chăng nữa thì chỉ cần đó là điều bạn thích thôi là không được phép phủ nhận 

 

Có bạn nào đang cảm thấy bị lạc lõng ““仲間はずれ” như thế này không?

Có lẽ mình đang bị tâm trạng tựa như thế này ^^

Thế nên khi đọc bài này, thấy hay ghê gớm ! 

Có những thứ mình cũng muốn làm, mà không giống như nhiều người khác nơi mình làm hiện tại. 

Nhưng cứ phải tin, và quý trọng những việc mình thích thú ^^ 

……

もし今、自分には居場所がないとか、自分らしく生きることができないとか、そういう思いがあるひとがいたらこの曲を聴いてみてほしい。

そして自分の好きなものを、ずっと大切にしていてほしい。

ゆっくりでいい、
築いていこう自分の城。

Nếu bây giờ bạn đang có những suy nghĩ như mình không không có chỗ đứng, hay không thể sống như chính mình.

thì hãy nghe bản nhạc này.

Và hãy luôn quý trọng những thứ mà mình yêu thích 

Chậm cũng được 

Hãy xây dựng bức thành của bản thân  

Đây là đoạn script mà chị ca sỹ đã nói lúc đầu, trước khi hát nhé các bạn :

「みなさんきっと、人には言えない趣味があると思うんです。延長コードばっかり集めるのが好きとか、満月の夜には全裸でベランダに出ないとだめとか。

人には言えない趣味を持ってるひとがいると思うんですけど、それって子どもの頃から形成されると思うんですが、周りの人に流されちゃって、そういう部分をなくしちゃうことってよくあるなと思って。

一人ひとりの個性を、ずっと大事にしてほしいなと思ってつくった曲です。”異端児の城”。」

 

Cảm ơn các bạn đã đọc đến tận cuối cùng của bài viết ^^

 

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *