- Sách tiếng Nhật

やっぱりみんな同じなんだ _ AI CŨNG GIỐNG NHAU CẢ THÔI ^^

Mình đã review cuốn: Tôi nói gì khi nói về chạy bộ  sau một hồi nghiền ngẫm cuốn tiếng Việt, thì mình hiện tại đã đọc được tầm một nửa bản tiếng Nhật rùi đó cả nhà ạ ^^
À, lại nhắc đến việc đọc sách tiếng Nhật, tháng 10 này, nhân dịp sinh nhật lần thứ 32 mình muốn tạo dựng một vài thói quen mới. Một trong số đó là dạy sớm và đọc sách tầm 30 phút mỗi ngày ngay sau khi ngủ dậy ^^

Từ trước đến giờ mình cũng vẫn đọc sách thường xuyên, nhưng thực sự nó không đều đặn, mà chỉ là tận dụng những khoảng thời gian rảnh hoặc những lúc hứng lên thì đọc một mạch xong lại thôi ( cả sách tiếng Việt và tiếng Nhật).
Nhưng dạo này, mình nghe và đọc nhiều về THÓI QUEN nên định thực hiện nó đều đặn hơn, thường xuyên hơn ^^.

📍Nếu bạn muốn góp quỹ sách tiếng Nhật thì có thể tham khảo LINK NÀY nhé

 

Quay lại chuyện đọc cuốn Tôi nói gì khi nói về chạy bộ. Khi đọc bản tiếng Nhật mình mới cảm nhận được là có một số ý tưởng mới mà chắc phải đọc bản gốc mới nhận ra được.
Dưới đây là một đoạn mình đã highlight lại khi đọc đến nó. Và giờ đọc lại vẫn thấy đồng cảm sâu sắc:)
Người ta thường nói, muốn làm được việc gì thì cần phải có ý chí, lòng quyết tâm nọ kia. Nhưng thực sự, nếu chỉ dựa vào độc ý chí không thôi thì chắc là chưa đủ. Một điều kiện cần nữa là sự YÊU THÍCH- HỨNG THÚ. Bởi nếu mà mình thích làm gì, thì tự bản thân sẽ kiên trì, theo đuổi sự yêu thích ấy mà không cần mất quá nhiều công sức cực nhọc.
Và tác giả đã nói lên đúng tâm trạng ấy của mình ^^

______________

生まれつき才能に恵まれた小説家は、何をしなくても(あるいは何をしても)自由自在に小説を書くことができる。泉から水がこんこんと湧き出すように、文章が自然に湧き出し、作品ができあがっていく。努力をする必要なんてない。そういう人がたまにいる。しかし残念ながら僕はそういうタイプではない。自慢するわけではないが、まわりをどれだけ見わたしても、泉なんて見あたらないのみを手にこつこつと岩盤を割り、穴を深くうがっていかないと、創作の水源にたどり着くことができない。

Những nhà văn được trời phú  (恵まれた) cho tài năng thiên bẩm (生まれつき) có thể viết tiểu thuyết dễ dàng  (自由自在) bất luận họ làm gì – hay không làm gì. Như nước từ một suối nguồn thiên nhiên, câu cú cứ lai láng (こんこんと), và với chút ít hoặc không có nỗ lực nào, những nhà văn này vẫn hoàn thành được một tác phẩm. Thỉnh thoảng (たまに)ta sẽ gặp ai đó như thế, nhưng, thật không may, số này không bao gồm tôi. Tôi không phát hiện (見あたらない) được một con suối nào gần kề cả. Tôi phải dùng đục( 鑿のみうがつ のみ)mà đập đá và đào (うがつ_穿つ)một cái hố sâu rồi mới định vị được nguồn sáng tạo (創作の水源)

小説を書くためには、体力を酷使し、時間と手間をかけなくてはならない。作品を書こうとするたびに、いちいち新たに深い穴をあけていかなくてはならない。しかしそのような生活を長い歳月にわたって続けているうちに、新たな水脈を探り当て、固い岩盤に穴をあけていくことが、技術的にも体力的にもけっこう効率よくできるようになっていく。だからひとつの水源が乏しくなってきたと感じたら、思い切ってすぐに次に移ることができる。自然の水源にだけ頼ってきた人は、急にそれをやろうと思っても、そうすんなりとはできないかもしれない。

Để viết một cuốn tiểu thuyết tôi phải ép mình làm việc quá sức(酷使し_こくし) về mặt thể chất và bỏ ra rất nhiều thời gian công sức. Mỗi khi bắt đầu một cuốn tiểu thuyết mới, tôi phải khơi một cái hố sâu khác. Nhưng nhờ duy trì kiểu sống này qua nhiều năm(長い歳月_ながいさいげつ) tôi đã trở nên rất có năng lực, cả về kỹ thuật lẫn về thể chất, trong việc đào một cái hố trong đá cứng và định vị một mạch nước mới. Vậy nên ngay khi tôi nhận ra là một nguồn nước đang khô cạn, tôi có thể chuyển ngay sang một nguồn nước khác. Nếu những người dựa trên suối nguồn tài năng thiên nhiên bỗng thấy là mình đã cạn kiệt cái nguồn duy nhất của mình rồi, họ sẽ gặp rắc rối.

人生は基本的に不公平なものである。それは間違いのないところだ。しかしたとえ不公平な場所にあっても、そこにある種の「公正さ」を希求することは可能であると思う。それには時間と手間がかかるかもしれない。あるいは、時間と手間をかけただけ無駄だったね、ということになるかもしれない。そのような「公正さ」に、あえて希求するだけの価値があるかどうかを決めるのは、もちろん個人の裁量である。

Nói cách khác, hãy cùng nhìn thẳng: đời cơ bản là không công bằng. Nhưng ngay cả trong một tình huống bất công, tôi nghĩ vẫn có thể kỳ vọng(希求_ききゅう)một kiểu công bằng nào đó (ある種の「公正さ」). Dĩ nhiên, điều này đòi hỏi thời gian và công sức. Và có lẽ xem ra cũng không đáng vậy. Tùy mỗi người quyết định (個人の裁量_đánh giá của cá nhận ) xem nó có đáng hay không.

 

毎日走り続けていると言うと、そのことに感心してくれる人がいる。「ずいぶん意志が強いんですね」とときどき言われる。ほめてもらえればもちろん嬉しい。けなされるよりはずっといい。しかし思うのだけれど、意志が強ければなんでもできてしまう、というものではないはずだ。世の中はそれほど単純にはできていない。というか正直なところ、日々走り続けることと、意志の強弱とのあいだには、相関関係はそれほどないんじゃないかという気さえする。

Khi tôi nói với mọi người là mình chạy mỗi ngày, một số người thấy rất ấn tượng. “Anh chắc phải là người có ý chí mạnh mẽ lắm,” đôi khi họ bảo tôi vậy. Dĩ nhiên, thật hay khi được khen ngợi như thế. Hay hơn nhiều (ずっといい)  so với bị chê bai, điều đó dĩ nhiên rồi. Nhưng tôi không nghĩ chỉ mỗi mình sức mạnh ý chí giúp ta làm được điều gì. Cuộc đời không đơn giản đến vậy. Phải nói thật, tôi thậm chí còn không cho là có tương quan (相関関係)  gì mấy giữa việc tôi chạy bộ mỗi ngày và tôi có ý chí mạnh mẽ hay không.

僕がこうして二十年以上走り続けていられるのは、結局は走ることが性に合っていたからだろう。少なくとも「それほど苦痛ではなかった」からだ。人間というのは、好きなことは自然に続けられるし、好きではないことは続けられないようにできている。そこには意志みたいなものも、少しくらいは関係しているだろう。しかしどんなに意志が強い人でも、どんなに負けず嫌いな人でも、意に染まないことを長く続けることはできない。またたとえできたとしても、かえって身体によくないはずだ。

Tôi cho rằng mình đã có thể chạy trong hơn hai mươi năm là bởi một lý do đơn giản: nó hợp với tôi (性に合っていた) . Hay ít ra là vì tôi không thấy khó nhọc (苦痛) gì lắm. Con người lẽ tự nhiên sẽ tiếp tục làm những gì mình thích, và thôi không làm những thứ mình không thích. Phải thú nhận rằng, cái gì đó gần với ý chí quả cũng đóng một vai trò nhỏ trong đó. Nhưng một người dù có ý chí mạnh thế nào chăng nữa, dù y có ghét thất bại bao nhiêu chăng nữa, song nếu đó là một hoạt động y không thật sự để tâm (意に染まない) , y sẽ không duy trì nó được lâu. Cho dù y có làm, điều đó cũng sẽ không có lợi cho y (身体によくない)

 

(省略)

Bạn học được gì từ thất bại 

 

 

しかし人には向き不向きがある。フル・マラソンに向いている人もいれば、ゴルフに向いている人もいれば、賭けごとに向いている人もいる。学校で体育の時間に、生徒全員に長距離を走らせている光景を目にするたびに、僕はいつも「気の毒になあ」と同情してしまう。走ろうという意欲のない人間に、あるいは体質的に向いていない人間に、頭ごなしに長距離を走らせるのは意味のない拷問だ。無駄な犠牲者が出ないうちに、中学生や高校生に画一的に長距離を走らせるのはやめた方がいいですよと忠告したいんだけど、まあ、そんなことを僕ごときが言っても、きっと誰も耳を貸してはくれまい。学校とはそういうところだ。学校で僕らが学ぶもっとも重要なことは、「もっとも重要なことは学校では学べない」という真理である。

Nhưng con người có những sở thích và không thích riêng của mình. Một số người hợp với chạy marathon hơn, số khác thì hợp với gôn, nhưng kẻ khác lại hợp với bài bạc. Mỗi khi thấy (目にする) các em học sinh trong giờ thể dục tất cả đều phải chạy một cự ly dài, tôi cảm thấy ái ngại (「気の毒になあ」)  cho chúng. Khăng khăng (頭ごなし) ép buộc (拷問 ) những người không muốn chạy, hay những người không đủ phù hợp về thể chất, là một kiểu tra tấn vô nghĩa. Tôi luôn muốn khuyên thầy cô đừng ép tất cả học sinh trung học chạy cùng một đường chạy, nhưng tôi không tin có ai sẽ nghe tôi (耳を貸す). Trường học là như thế đấy. Điều quan trọng nhất ta học được ở trường là cái sự thật rằng những điều quan trọng nhất ta lại không học hỏi được ở trường.

Note:

  • 頭ごなし:     相手の言い分も聞かずに、初めから一方的にきめつけた態度をとること。( Ngoan cố không nghe theo ý kiến người khác, khăng khăng, quả quyết) 
  • 拷問:  ゴウモン:Tra tấn, ép buộc 

 

しかしいくら長い距離を走ることが性に合っていると言っても、やはり「今日は身体が重いなあ。なんとなく走りたくないな」という日はある。というか、しばしばある。そういうときにはいろんなもっともらしい理由をつけて、走るのを休んでしまいたくなる。オリンピック・ランナーの瀬古利彦さんに一度インタビューをしたことがある。現役を退いてS&Bチームの監督に就任した少しあとのことだ。そのときに僕は「瀬古さんくらいのレベルのランナーでも、今日はなんか走りたくないな、いやだなあ、家でこのまま寝てたいなあ、と思うようなことってあるんですか?」と質問してみた。瀬古さんは文字通り目をむいた。そして〈なんちゅう馬鹿な質問をするんだ〉という声で「当たり前じゃないですか。そんなのしょっちゅうですよ!」と言った。

Dù chạy cự ly dài có phù hợp với tôi thế nào chăng nữa thì tất nhiên cũng có ngày tôi cảm thấy gần như uể oải  (身体が重い)và không muốn chạy. Thực ra, chuyện đó xảy ra nhiều. Những ngày như thế, tôi có nghĩ ra đủ thứ cớ có vẻ hợp lý để dẹp phứt chạy bộ đi. Có lần, tôi hỏi vận động viên chạy đua Olympic là Toshihiko Seko, ngay sau khi ông thôi chạy (現役を退く_ しりぞく) và trở thành huấn luyện viên(監督_カントク) đội tuyển của công ty S&B. Tôi hỏi ông, “Một vận động viên tầm cỡ anh có khi nào cảm thấy kiểu như hôm nay anh thích nghỉ chạy hơn, kiểu như anh không muốn chạy mà chỉ thích ngủ nướng hơn không?” Ông ta trố mắt nhìn tôi và rồi, bằng một giọng chứng tỏ rõ ràng là ông thấy câu hỏi mới ngớ ngẩn làm sao, đáp, “Dĩ nhiên. Bao giờ cũng vậy!”

今にして思えば、我ながらたしかに愚問だったと思う。いや、そのときだってそれが愚問であることはわかっていた。しかしそれでも、僕は瀬古さんの口から、直接その答えを聞いてみたかったのだ。たとえ筋力や運動量やモチベーションのレベルが天と地ほど違っていたとしても、朝早く起きてランニング・シューズの紐を結ぶときに、彼が僕と同じような思いをしたことがあるのかどうかを。そして瀬古さんのそのときの答えは、僕を心底ほっとさせてくれた。ああ、やっぱりみんな同じなんだ、と

Giờ đây (今にして)nhớ lại chuyện đó tôi cũng thấy được câu hỏi thật ngớ ngẩn (愚問_ぐもん)làm sao. Tôi nghĩ ngay cả hồi đó tôi cũng biết nó ngớ ngẩn thế nào, nhưng hẳn là vì tôi muốn nghe câu trả lời từ chình miệng một người tầm cỡ Seko. Tôi muốn biết rằng liệu, dù khác nhau một trời một vực (天と地ほど違っていた)về sức mạnh, khối lượng tập luyện và động cơ, nhưng sáng sớm khi ta buộc dây giày chạy bộ thì ta có cảm thấy như nhau hay không. Câu trả lời của Seko lúc đó làm tôi nhẹ cả người(心底ほっとした) Suy cho cùng tất cả chúng ta đều làm như nhau cả thôi, tôi nghĩ.

個人的なことを言わせていただければ、僕は「今日は走りたくないなあ」と思ったときには、常に自分にこう問いかけるようにしている。おまえはいちおう小説家として生活しており、好きな時間に自宅で一人で仕事ができるから、満員電車に揺られて朝夕の通勤をする必要もないし、退屈な会議に出る必要もない。それは幸運なことだと思わないか?(思う)。それに比べたら、近所を一時間走るくらい、なんでもないことじゃないか。満員電車と会議の光景を思い浮かべると、僕はもう一度自らの志気を鼓舞し、ランニング・シューズの紐を結び直し、比較的すんなりと走り出すことができる。「そうだな、これくらいはやらなくちゃバチがあたるよな」と思って。もちろん一日に平均一時間走るよりは、混んだ通勤電車に乗って会議に出た方がまだましだよ、という人が数多くおられることは承知の上で申し上げているわけだが。

Mỗi khi cảm thấy không muốn chạy, tôi luôn tự hỏi mình cũng một câu: Mình có thể kiếm sống bằng nghề tiểu thuyết gia, làm việc tại nhà, sắp xếp giờ giấc cho mình, vậy nên mình không phải đi lại trên một toa tàu điện chật như nêm hay ngồi chịu trận những cuộc họp chán ngắt(退屈な_たいくつな). Chẳng lẽ mình không thấy là mình may mắn thế sao? (Tin tôi đi, tôi có nhận thấy). So với chuyện đó, chạy một giờ quanh khu hàng xóm thì đâu có là gì, đúng không? Mỗi khi tôi hình dung (思い浮かぶ) mấy con tàu đông nghịt và những cuộc họp hành liên miên bất tận, nó giúp tôi có động cơ (志気を鼓舞_しきをこぶする)rõ rệt trở lại, thế là tôi thắt chặt dây giày chạy và lên đường mà không còn băn khoăn gì nữa. Nếu mi không kham được chuyện này, tôi nghĩ , thì đáng đời mi lắm( バチがあたる). Tôi nói điều này khi biết rất rõ rằng (承知の上) có rất nhiều người sẽ sẵn sàng chọn lên một chuyến tàu chật kín người và dự những cuộc họp bất kể ngày giờ hơn là chạy bộ một giờ mỗi ngày.

 

  • 鼓舞する:động lực, truyền cảm hứng 
  • 志気:chí khí 

______

Trang FB Học tiếng Nhật cùng Mao và kênh youtube như chúng mình thấy cũng không có rầm rộ gì cho lắm_ có điều mình tin nếu ai đã từng thích và đọc những bài blog của mình sẽ sẽ quay lại với nó _ nhưng mình vẫn viết mỗi ngày, rồi thỉnh thoảng vẫn lên video đều. Nếu nói là chăm thì cũng đúng, nhưng mình làm những việc ấy vì thấy nó cũng hợp với mình. Mà thực ra là không làm nó thì cũng chẳng biết làm gì nữa cho đời thêm vui ^^.

Thế nên, giống với Haruki Murakami, cũng có những lúc mình chán viết, chán làm những thứ ấy, nhưng cũng lại trở lại viết, trở lại làm. Đúng thật là con người ta sẽ tự nhiên làm những thứ mình thích, mình thấy vui.

Những suy nghĩ này nảy lên trong đầu mình khi đọc những dòng chữ trên của tác giả. Còn bạn thì sao?
Có thấy mình trong đó không? Ai cũng giống nhau cả thôi(やっぱりみんな同じなんだ). Ai cũng sẽ có những lúc mệt mỏi, chẳng muốn động tay động chân. Nhưng rồi thì ai cũng lại tiếp tục làm những việc mình thích ^^

Hãy comment cho mình biết  nếu chúng mình thấy đúng vậy nhé. 

 

 

 

 

1 thought on “やっぱりみんな同じなんだ _ AI CŨNG GIỐNG NHAU CẢ THÔI ^^

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *